Chủ nhật 16/12/2018 23:07

Tầm nhìn biển cả qua những áng thơ xưa

07:00 | 18/02/2018

|
Ngay từ khi giành được quyền tự chủ, ở vị trí địa lý - lịch sử - quân sự và kinh tế đặc biệt, cha ông ta hầu như không có khi nào lãng quên vị trí địa lý đặc biệt của quốc gia mình, dù mỗi thời mỗi khác.

Một quốc gia lưng tựa dãy Trường Sơn, mắt nhìn ra Biển Đông, luôn phải đương đầu với bão tố, với giặc ngoại bang nhòm ngó, không thể không lấy đó làm điều lo nghĩ. Thêm nữa, ở phương diện kinh tế, trời cho nước ta rừng vàng biển bạc, chả lẽ con người lại vô cảm với nguồn lợi thiên nhiên vô cùng hào phóng hay sao?

tam nhin bien ca qua nhung ang tho xua
Cảng Cái Rồng nằm ở phía đông thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn

Khi dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra thành Đại La, rồi đặt tên kinh đô mới là Thăng Long (1010), Lý Công Uẩn đã cho thấy rõ tầm nhìn chiến lược của ông đối với tương lai của đất nước. Và cũng ngay từ thời nhà Lý (1009-1226), biển đảo nước ta đã được quan tâm nhiều mặt, đặc biệt là quân sự và kinh tế. Đồng thời với quân sự, nhà Lý đã chú trọng việc xây dựng và khai thác cảng biển Vân Đồn, lấy đó làm thương cảng quan trọng bậc nhất ở thời bình.

Nguyễn Trãi, trong bài thơ “Vân Đồn”, đã phản ánh rõ điều đó. Ở phần lời dẫn, tác giả nói rằng sách An Nam chí chép: “Đời Lý có tù trưởng các nước Qua Oa, Xiêm La đến đậu thuyền ở đấy để cư ngụ và buôn bán”. Câu kết bài thơ, Nguyễn Trãi viết: “Nghe nói, đó là vụng biển cho người Phiên đỗ tàu” (Đạo thị Phiên nhân trú bạc loan). Chẳng những thế, cũng ngay ở đời nhà Lý, đảo Quan Lạn cũng được triều đình cử quân quan chốt giữ và khai thác nhiều nguồn lợi kinh tế.

Đến đời Trần (1226-1400), biển đảo nước ta lại càng được quan tâm hơn, cả về kinh tế lẫn quốc phòng. Các vua Trần đã cử những tướng lĩnh tài giỏi như Trần Khánh Dư, Trần Quốc Tảng, Trần Quang Triều (con trai Trần Quốc Tảng)… trấn giữ, đồng thời khai thác triệt để giá trị kinh tế cảng biển Vân Đồn.

Ở đời vua Lê Thái Tông (1423-1442), khi đã đến tuổi trưởng thành, ông vua trẻ này liền tìm cách thu hồi quyền lực bấy lâu đã bị bọn lộng thần Lê Vấn, Lê Sát thao túng. Vua Lê Thái Tông giết Lê Sát, tiếp đó là cả Lê Ngân cùng đồng bọn, rồi nhà vua hạ chiếu mời Nguyễn Trãi (1380-1442) về Thăng Long, trả lại chức tước cũ cho ông, lại còn ban thêm chức quan quản lý quân dân hai đảo vùng Đông Bắc, bởi đây là miền đất phên giậu cực kỳ quan trọng của đất nước. Cũng bởi vậy, Nguyễn Trãi có nhiều thời gian đi kinh lý vùng biển đảo phía Đông.

Sẵn bút lực dồi dào, đại thi hào Nguyễn Trãi đã sáng tác khá nhiều bài thơ hay về biển đảo tươi đẹp của đất nước, ví như “Bạch đằng hải khẩu”, “Thần phù hải khẩu”, “Vân Đồn”, “Vọng doanh”, “Quá thần phù hải khẩu”, “Quan hải” và nhiều bài thơ khác, đều bằng chữ Hán. Riêng ở thời kỳ thất sủng, Nguyễn Trãi đã bị triều đình Hậu Lê cử đi sang Trung Hoa, chưa rõ là với mục đích gì, những hơn 3 năm trời dằng dặc. Đó là một chuyến đi bất đắc dĩ, có lẽ do bọn gian thần mưu toan gì đó, nhằm đẩy hổ ra khỏi rừng chăng? Tuy nhiên, ngay từ lúc khởi hành từ một cảng biển nào đó của tỉnh Quảng Ninh, nhà thơ vĩ đại từng viết “Đại cáo bình Ngô” đã viết một bài thơ tràn đầy tráng chí, đó là bài “Quá hải” (Vượt biển).

Tạm dịch:

Gạt hết âu sầu vơ vẩn, một mình tựa mui thuyền,

Ánh nước mênh mông, tứ thơ nói sao hết được.

Rừng tùng ngăn đất làm giới hạn Bắc - Nam,

Núi Long Vĩ nằm ngang làm chỗ ngăn (giặc) rất hiểm yếu.

Nghĩa khí quét phăng ngàn lớp mây mù,

Tráng hoài gọi gió nổi, buồm căng nửa cánh.

Chiếc thuyền nhỏ mừng ta làm khách đi chầu trời,

Cưỡi kình nghê mà vượt thẳng biển Đông!

Cảm hứng chủ đạo của những bài thơ Nguyễn Trãi viết về biển đảo nước ta hồi ấy chính là tình yêu và niềm tự hào phơi phới về đất nước vô cùng tươi đẹp của mình: “Vân Đồn đường núi quanh co/ Kỳ quan đất dựng trời cho tuyệt vời/ Mâm lam rủ kính sáng ngời/ Xanh đen muôn hộc tóc trời biếc xanh”. Cùng với một ý chí quyết giữ lấy giang sơn tươi đẹp:

Tinh hoa vũ trụ sạch trong,

Phong ba chẳng chuyển tấm lòng sắt gang!

Sau Nguyễn Trãi hàng trăm năm, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), nhà lý học xuất sắc, nhà văn hóa lớn nhất thế kỷ XVI, đồng thời cũng là nhà tiên tri số một và duy nhất của nước ta, đã có bài thơ rất giàu ý tưởng sâu sắc về tầm nhìn biển đảo, được chép trong cuốn “Bạch Vân am thi tập”. Đó chính là bài thơ “Cự ngao đới sơn” (Ngao lớn đội núi).

Tạm dịch:

Nước biếc ngậm núi tiên trong đến tận đáy,

Con ngao lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.

Ngửng đầu lên, đã có sức vá trời,

Bấm móng xuống, sóng không dội tiếng vào đất.

Vạn dặm biển Đông đưa về, (phải) nắm chắc trong tay,

(Thì) muôn năm cõi Nam đặt trong cảnh trị bình.

Ta nay muốn thi thố sức phù nguy,

Để giữ vững nước non của các vua xưa để lại!

Con ngao lớn, hay là con rùa lớn giữa biển khơi đội nước nhô lên chính là hình ảnh được dùng làm biểu tượng để chỉ một hòn đảo lớn nào đó của nước ta nằm ngoài Biển Đông. Người đọc có thể hình dung thấy một hòn đảo rất lớn, đội bầu nước trong xanh như ngọc bích mà nhô lên, mà “ngửng đầu lên đã có sức vá trời”. Rồi khi “bấm móng xuống, sóng không dội tiếng vào đất”. Nghĩa là biển xanh rất sâu, sâu thăm thẳm. Tác giả miêu tả hòn đảo, hay là quần đảo nào của nước ta ở ngoài Biển Đông kia vậy? Chưa có thể đoán chắc đó là hòn đảo cụ thể nào, hay quần đảo nào, nhưng đó là đất đai biển đảo của Tổ quốc. Thế nên, nhà thơ, nhà tiên tri thế kỷ XVI đã nhắc nhở rằng:

Vạn dặm Biển Đông đưa về (cho chúng ta), cần phải nắm chắc trong tay,

(Thì) muôn năm cõi Nam đặt trong cảnh trị bình (thái bình thịnh trị)!

tam nhin bien ca qua nhung ang tho xua

Thế nghĩa là trời cho dân tộc ta Biển Đông với nhiều hòn đảo lớn và xinh đẹp. Chúng ta, đời đời con cháu phải quyết tâm, phải có tấm lòng và ý chí gang thép để giữ lấy nó, như máu thịt của chính mình. Và nếu làm được điều đó thì nước Việt Nam yêu quý của chúng ta sẽ mãi mãi vững bền thịnh trị! Thật là sâu sắc và đầy tâm huyết.

Đến thế kỷ XIX, Chu Thần Cao Bá Quát (1808-1855) là người viết nhiều hơn về Biển Đông với những miêu tả kỹ hơn và tầm nhìn mới hơn, cụ thể hơn về biển đảo nước ta, trong mối quan hệ với các nước vùng Đông Nam Á (xưa gọi là vùng Hạ Châu).

Cao Bá Quát có khoảng hơn 7 tháng trời cùng chiếc thuyền Long Nhương có tên là Phấn Bằng lênh đênh trên Biển Đông, đi đến cảng biển một số nước như Indonesia, Mã Lai, cả Campuchia nữa. Không phải là một sứ đoàn, chỉ là một thương đoàn, có nhiệm vụ mang hàng hóa nước ta sang bán ở một số nước thuộc vùng Hạ Châu, rồi mua hàng xa xỉ phẩm về phục vụ cho cuộc sống hưởng lạc của vua quan và các quý bà trong cung đình triều Nguyễn mà thôi. Trong chuyến đi này, viên quan bộ Lễ bị mắc tội tù là Cao Bá Quát chỉ được giao nhiệm vụ giữ kho tiền, ghi chép như một viên kế toán, để “lập công chuộc tội”. Nhưng với tâm hồn thi nhân sẵn có, cùng với tài thơ vào bậc Thi Thánh, Cao Bá Quát đã viết được nhiều bài thơ rất hay trong chuyến hành trình này. Tuy nhiên, đó chỉ là thơ họ Cao viết về Biển Đông, về những hòn đảo, quần đảo của nước ta ở gần, ở xa hơn như quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…

Ngay như từ hồi còn trẻ, trên đường vào kinh đô Huế thi Hội (tiến sĩ), chàng trai họ Cao đứng trên đỉnh Hoành Sơn đã nhìn thấy Biển Đông vô cùng hùng vĩ. Ông viết: “Sóng trên mặt bể trắng xóa như đầu bạc/ Gió táp xô vỡ chiếc thuyền lớn hàng muôn hộc/ Sấm ran, chớp giật trông rùng rợn ghê người”. Trong những ngày dài dằng dặc thiên lý, khoảng năm 1832, lần đầu tiên đi qua vùng đất Quảng Trị nghèo khó, quan sát cuộc sống vất vả cực nhọc của người dân, thầy Cao đã viết bài thơ “Quá Quảng Trị” (Qua đất Quảng Trị) để nói rõ tâm sự của mình, đồng thời ngầm phê phán con mắt thiển cận của nhà Nguyễn.

Nhà thơ viết:

“Sơn hải chỉ nghi Tề cận lợi

Lữ thương hoàn tướng Ngụy dư phong”

(Thấy núi cùng biển, ngờ như nước Tề chỉ chăm cái lợi trước mắt,

Nhìn dép cùng xiêm áo, tưởng chừng phong tục nước Ngụy còn sót lại)

Sao vậy? Hóa ra là thầy Cao mượn điển bên Trung Hoa. Nhìn thấy cảnh núi non rừng biển bao la trước mắt mình, mà dân Quảng Trị vẫn đói nghèo lạc hậu, thi nhân liền nghĩ tới tích xưa, đấy là nước Tề, nước Ngụy thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chỉ biết chăm cái lợi trước mắt, mãi vẫn nghèo khó, sống rất tằn tiện. Nhìn dân Quảng Trị nước ta chả khác gì dân nước Tề, nước Ngụy kia, nhà thơ mới động lòng thương cảm.

Nhưng phải đến khi bị triều đình bắt đi “Dương trình hiệu lực, phục vụ quân thứ”, thầy Cao mới có được hơn nửa năm trời đi khắp biển đảo miền Đông Nam Á. Tâm tư, tình cảm và tầm mắt của nhà thơ yêu nước thiết tha mới được mở rộng thêm nhiều. Được tiếp xúc với nền văn minh và kinh tế tư bản mới lạ, cùng với những người da trắng, da đen cũng rất mới lạ, thi nhân họ Cao có được những cảm hứng mới, vô cùng sinh động, khiến ông như được gột rửa tâm hồn, no say con mắt, cảm xúc thăng hoa. Đây nhé, ở bài “Ngày hai mươi hai được thuận gió, viết đùa, đưa các bạn cùng thuyền”, Cao Chu Thần viết:

“Đảo Rùa, đảo Nanh Rồng thấp thoáng ở vùng xa tắp,

Gió Bắc đưa thuyền qua muôn trùng vũng bể.

Có cuộc hoan du, mới biết cá lớn nghìn dặm,

Kiến thức hẹp hòi, khác nào nhìn con báo chỉ thấy một vằn”.

Hoàng Sa hay Trường Sa trong tầm mắt của thi nhân họ Cao đấy chăng? Nó hiện lên hùng vĩ và vô cùng xinh đẹp, đến nỗi nhà thơ phải thốt lên kinh ngạc: “Ai thử đem những câu thơ kinh người như của chảng Tiểu Tạ/ Mà đề lên khắp các núi ở chân trời kia!”.

Nhưng đến khi nhìn thấy những chiếc tàu sắt to lớn đi lại lướt nhanh hùng hổ, phun khói đen đặc một vùng Biển Đông của những người mà tác giả gọi là bọn “Hồng Mao”, tức người Tây tóc hung hung đỏ, nhà thơ họ Cao lúc đầu có thấy ngỡ ngàng, e ngại. Tuy nhiên, ý thức tự hào công dân của một nước có chủ quyền trên Biển Đông, quên cả thân phận tù nhân đang còn bị câu lưu, Thầy Cao bèn cất lên những lời cảnh báo chiếc tàu lạ kia, rằng: “Nếu mở kim nam châm đi sang phía Đông thì phải cẩn thận, dè chừng! Các ngươi không thể coi bể Đông như bể Tây được… Sẽ là nguy hiểm đấy!”. Đấy chính là thái độ mạnh mẽ, dứt khoát của tác giả về chủ quyền biển đảo của nước mình.

tam nhin bien ca qua nhung ang tho xua

Lại khi ở Vọng Hải Đài, tức cái đài quan sát biển đảo của triều Nguyễn ở Huế, Cao Chu Thần đã có một bài thơ tràn đầy hào khí Đông A. Ông viết:

“Suốt đêm gió lộng làm rung động cả tòa Hải Đài,

Ngoài cửa Thuận An, tiếng sóng gầm như sấm.

Hùng khí của chàng họ Chu nghìn thuở vẫn còn bốc lên,

Như muốn đánh cho cái tàu lớn của bọn Hồng Mao phải lùi trở lại”.

Ngày nay, thời thế đã khác xưa rồi. Nhân loại đang tiến dần đến hội nhập toàn cầu. Chủ quyền biển đảo của mỗi quốc gia đã có luật pháp quốc tế bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn còn đó nguy cơ, tham vọng bành trướng, bất chấp luật pháp quốc tế.

Biển Đông rộng lớn, giàu tài nguyên, là nguồn sống của dân tộc ta từ bao đời, chúng ta cần phải hết sức chăm lo bảo vệ và khai thác, đồng thời tôn trọng chủ quyền các nước khác trong khu vực. Chiến lược nhìn ra biển Đông của nước ta, thể hiện rõ ràng điều đó. Phải giữ vững chủ quyền, phải khai thác và phát triển biển đảo thiêng liêng của đất nước bằng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, bằng tình yêu biển đảo vô bờ bến đã có truyền thống từ lâu đời, như bảo vệ sự sống còn của cả dân tộc, không thể khác!

Hà Nội, đầu xuân mới 2018

Vũ Bình Lục

Nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa

Share on Google+
Loading...