Loạt hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài cùng kiến nghị lộ trình mở cửa lại

07:54 | 20/09/2021

|
Theo các hiệp hội nước ngoài, điều quan trọng là Việt Nam phải hành động ngay bây giờ để duy trì khả năng cạnh tranh, đồng thời không bị tụt hậu trong quá trình phục hồi kinh tế.

Việt Nam phải hành động ngay bây giờ để duy trì khả năng cạnh tranh

Lãnh đạo một loạt các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài hàng đầu gồm Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham Việt Nam), Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN và Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (KoCham) vừa đồng loạt ký tên kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ với đề xuất chiến lược "Phòng ngừa và kiểm soát đại dịch ở từng khu vực" nhằm khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh an toàn trong trạng thái chống dịch mới.

Trong bản kiến nghị, lãnh đạo các hiệp hội doanh nghiệp cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng kế hoạch cho Việt Nam ngăn chặn và kiểm soát Covid-19, xác định một con đường để tái mở cửa và phục hồi kinh tế.

Loạt hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài cùng kiến nghị lộ trình mở cửa lại - 1
Các hiệp hội nước ngoài nhấn mạnh việc "các doanh nghiệp đều cần có lộ trình rõ ràng cho việc mở cửa trở lại ngay từ bây giờ" (Ảnh: Trần Thanh).

"Điều quan trọng là Việt Nam phải hành động ngay bây giờ để duy trì khả năng cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu đồng thời không bị tụt hậu trong quá trình phục hồi kinh tế", kiến nghị từ các hiệp hội nước ngoài nêu rõ.

Các hiệp hội nước ngoài nhấn mạnh việc "các doanh nghiệp đều cần có lộ trình rõ ràng cho việc mở cửa trở lại ngay từ bây giờ".

Dẫn số liệu từ các cuộc khảo sát mà các hiệp hội đã thực hiện, kết quả cho thấy ít nhất 20% thành viên sản xuất đã chuyển một số hoạt động sản xuất sang một quốc gia khác. "Một khi sản xuất đã thay đổi, rất khó để quay trở lại, đặc biệt là khi dây chuyền sản xuất đã được mở rộng ở nơi khác", bản kiến nghị từ đại diện các hiệp hội nhấn mạnh.

Đáng lưu ý, các đơn vị này cũng cho rằng "Việt Nam đang bỏ lỡ những cơ hội đầu tư có thể không quay trở lại". Đầu tư sẽ không tăng nếu không có kế hoạch rõ ràng để tái mở cửa và phục hồi. Ngay cả các doanh nghiệp hiện tại cũng có hầu hết các kế hoạch đầu tư đang bị trì hoãn.

Các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài cũng lo ngại Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội lớn để tận dụng đa dạng hóa chuỗi cung ứng đi từ Trung Quốc nếu không thể chứng minh đây là một sự thay thế đáng tin cậy. Và để duy trì khả năng cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu, kể cả so với Malaysia, Indonesia và Thái Lan, Việt Nam cần phải hành động ngay từ bây giờ.

Cần sự phối hợp trên toàn quốc và giữa các tỉnh

Nhấn mạnh quan điểm "vắc xin là yếu tố then chốt", các đại diện hiệp hội doanh nghiệp cũng hy vọng các nhóm ưu tiên có thể tập trung vào nhân viên y tế tuyến đầu, người cao tuổi và những có bệnh lý nền, người giao hàng và bán hàng thực phẩm, thiết bị y tế thiết yếu, công nhân tại các khu công nghiệp, cảng và hậu cần, đặc biệt là TPHCM và khu vực phía Nam.

Đối với hệ thống "thẻ xanh và thẻ vàng" được đề xuất, có thể là một phần hữu ích của chiến lược tái mở cửa, nhưng theo các hiệp hội, cũng đặt ra rất nhiều câu hỏi. Chủ yếu trong số đó là các câu hỏi về ứng dụng hoặc hệ thống theo dõi là gì và nó sẽ được điều phối như thế nào giữa các ban hoặc bộ ngành và các tỉnh để cho phép việc nhận dạng, tiếp cận và đi lại một cách nhất quán.

"Cũng cần có một cơ chế để nhập liệu các lần tiêm chủng và cấp "thẻ xanh" cho người nước ngoài, nhiều người trong số họ đã được tiêm chủng đầy đủ ở nước ngoài", bản đồng kiến nghị nêu rõ.

Tiếp tục nhắc lại việc "sản xuất cần phải tái mở cửa thiết lập trạng thái "bình thường mới" ngay bây giờ", các hiệp hội cho biết các doanh nghiệp có hồ sơ theo dõi đã được chứng minh và kế hoạch rõ ràng cần được kích hoạt để đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn đối với hoạt động và an toàn của người lao động và mở cửa trở lại khi họ có thể, với sự giám sát sau khi thực hiện.

Ngoài ra, các hiệp hội cũng cho biết rất cần sự phối hợp trên toàn quốc và giữa các tỉnh là rất quan trọng. Khi chúng ta tiến tới một trạng thái bình thường mới, ngoài việc tiêm chủng nhiều hơn, điều quan trọng là phải có sự phối hợp các chính sách trên toàn quốc, bao gồm vận chuyển, sẵn sàng các xét nghiệm nhanh và các chính sách để cô lập và loại bỏ F0 nhanh chóng để đảm bảo an toàn cho người lao động và giảm thiểu tác động đến các hoạt động.

Theo Dân trí

Tháo gỡ khó khăn cho ngành nông nghiệpTháo gỡ khó khăn cho ngành nông nghiệp
Hà Nội đặt mục tiêu hoàn thành tiêm mũi 2 vắc xin Covid-19 trong tháng 11Hà Nội đặt mục tiêu hoàn thành tiêm mũi 2 vắc xin Covid-19 trong tháng 11
Hà Nội sẽ nới lỏng từng bước, cho phép các công trình xây dựng hoạt động trở lạiHà Nội sẽ nới lỏng từng bước, cho phép các công trình xây dựng hoạt động trở lại
Kết quả nghiên cứu mới nhất: Vắc-xin Moderna hiệu quả hơn PfizerKết quả nghiên cứu mới nhất: Vắc-xin Moderna hiệu quả hơn Pfizer
Ảnh hưởng của dịch Covid-19 đến người cao tuổiẢnh hưởng của dịch Covid-19 đến người cao tuổi
Khắc phục khó khăn trong việc dạy và học trực tuyếnKhắc phục khó khăn trong việc dạy và học trực tuyến

  • sao-thai-duong
  • bidv-5-goi-dich-vu-free
  • vietinbank
  • vietinbank

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL / DOJI HN lẻ 57,600 58,400
AVPL / DOJI HN buôn 57,600 58,400
AVPL / DOJI HCM lẻ 57,800 58,400
AVPL / DOJI HCM buôn 57,800 58,400
AVPL / DOJI ĐN lẻ 57,600 58,400
AVPL / DOJI ĐN buôn 57,600 58,400
Nguyên liêu 9999 - HN 51,400 51,620
Nguyên liêu 999 - HN 51,350 51,570
AVPL / DOJI CT lẻ 57,700 58,400
AVPL / DOJI CT buôn 57,700 58,400
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - Bóng đổi 9999 0 0
TPHCM - PNJ 51.600 52.700
TPHCM - SJC 57.800 58.500
Hà Nội - PNJ 51.600 52.700
Hà Nội - SJC 57.800 58.500
Đà Nẵng - PNJ 51.600 52.700
Đà Nẵng - SJC 57.800 58.500
Cần Thơ - PNJ 51.600 52.700
Cần Thơ - SJC 57.800 58.500
Giá vàng nữ trang - Nhẫn PNJ (24K) 51.500 52.250
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 24K 51.100 51.900
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 18K 37.680 39.080
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 14K 29.110 30.510
Giá vàng nữ trang - Nữ trang 10K 20.340 21.740
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
AJC Mua vào Bán ra
Vàng trang sức 9999 5,070 5,210
Vàng trang sức 999 5,060 5,200
Vàng NT, TT Hà Nội, 3A 5,150 5,220
Vàng NL 9999 5,120 5,205
Vàng miếng SJC Thái Bình 5,780 5,840
Vàng miếng SJC Nghệ An 5,765 5,830
Vàng miếng SJC Hà Nội 5,775 5,830
Vàng NT, TT Thái Bình 5,140 5,240
Vàng NT, TT Nghệ An 5,130 5,230
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
SJC Mua vào Bán ra
SJC 1L, 10L 57,900 58,600
SJC 5c 57,900 58,620
SJC 2c, 1C, 5 phân 57,900 58,630
Vàng nhẫn SJC 99,99 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 51,600 52,300
Vàng nhẫn SJC 99,99 0.5 chỉ 51,600 52,400
Nữ Trang 99.99% 51,200 52,000
Nữ Trang 99% 50,285 51,485
Nữ Trang 68% 33,514 35,514
Nữ Trang 41.7% 19,836 21,836
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
BTMC Mua vào Bán ra
VÀNG MIẾNG VRTL 5,161 5,226
NHẪN TRÒN TRƠN 5,161 5,226
VÀNG MIẾNG SJC 5,781 5,835
VÀNG TRANG SỨC 5,105 5,215
99.9 (24k) 5,205
VÀNG HTBT 5,095
VÀNG NGUYÊN LIỆU 5,045
Cập nhật: 27/10/2021 04:01

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,625.97 16,793.91 17,320.61
CAD 17,918.41 18,099.40 18,667.05
CHF 24,103.41 24,346.88 25,110.47
CNY 3,491.39 3,526.65 3,637.81
DKK - 3,485.13 3,616.07
EUR 25,732.99 25,992.92 27,151.49
GBP 30,514.95 30,823.18 31,789.89
HKD 2,853.57 2,882.39 2,972.79
INR - 302.43 314.30
JPY 193.97 195.93 205.16
KRW 16.83 18.70 20.49
KWD - 75,363.88 78,322.29
MYR - 5,427.11 5,541.62
NOK - 2,668.56 2,779.92
RUB - 325.49 362.70
SAR - 6,052.10 6,289.67
SEK - 2,591.37 2,699.51
SGD 16,467.32 16,633.66 17,155.34
THB 608.24 675.83 701.22
USD 22,625.00 22,655.00 22,855.00
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Vietinbank
AUD - 16,759 17,459
CAD - 18,066 18,766
CHF - 24,381 25,031
CNY - 3,495 3,635
DKK - 3,455 3,625
EUR - 25,523 26,813
GBP - 30,769 31,939
HKD - 2,807 3,002
JPY - 193.06 203.86
KRW - 17.49 21.29
LAK - 1.53 2.48
NOK - 2,640 2,760
NZD - 16,035 16,460
SEK - 2,590 2,665
SGD - 16,330 17,130
THB - 671.98 699.98
USD - 22,575 22,855
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
USD, (1,2) 22,435
USD, (5,10,20) 22,435
USD,50-100 22,646 22,666 22,856
JPY 196.39 196.18 205.19
AUD 16,607 16,837 17,439
CAD 17,950 18,170 18,771
GBP 30,802 31,051 31,953
CHF 24,248 24,501 25,104
SGD 16,568 16,658 17,260
EUR 25,943 26,146 27,146
CNY - 3,507 3,637
HKD - 2,797 2,997
THB 661 668 718
MYR - 5,418 5,571
KRW - 23.00
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 22,660 22,660 22,860
USD(1-2-5) 22,447 - -
USD(10-20) 22,615 - -
GBP 30,676 30,861 31,917
HKD 2,871 2,891 2,964
CHF 24,190 24,336 25,103
JPY 195.92 197.1 204.9
THB 651.09 657.67 715.25
AUD 16,733 16,834 17,338
CAD 17,983 18,091 18,670
SGD 16,549 16,649 17,135
SEK - 2,608 2,684
LAK - 1.88 2.32
DKK - 3,500 3,603
NOK - 2,686 2,765
CNY - 3,516 3,618
RUB - 296 379
NZD 16,059 16,156 16,490
KRW 17.49 - 21.3
EUR 25,980 26,050 27,061
TWD 740.27 - 837.94
MYR 5,142.44 - 5,626.27
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 22,650.00 22,670.00 22,850.00
EUR 26,027.00 26,062.00 26,752.00
GBP 30,833.00 31,019.00 31,608.00
HKD 2,871.00 2,883.00 2,968.00
CHF 24,296.00 24,394.00 25,022.00
JPY 196.54 197.83 202.05
AUD 16,704.00 16,771.00 17,323.00
SGD 16,632.00 16,699.00 17,063.00
THB 661.00 664.00 708.00
CAD 18,086.00 18,159.00 18,572.00
NZD 0.00 16,059.00 16,537.00
KRW 0.00 18.60 20.43
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 22.657 22.697 22.869
AUD 16.865 16.965 17.478
CAD 18.198 18.298 18.707
CHF 24.525 24.625 25.030
EUR 26.235 26.335 26.796
GBP 31.191 31.291 31.703
JPY 197,09 198,59 203,46
SGD 16.696 16.796 17.101
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
GOLD 5,786,000 5,786,000 5,844,000
USD(50,100) 22,657 22,677 23,131
USD(5, 10, 20) 22,637 22,677 23,131
USD(1,2) 22,637 22,677 23,131
EUR 26,089 26,189 26,698
GBP 30,920 31,020 31,728
JPY 196.57 197.57 202.62
CAD 17,961 18,011 18,766
AUD 16,745 16,845 17,359
SGD 16,580 16,680 17,186
CNY
THB
CHF
KRW
Cập nhật: 27/10/2021 04:01
  • pvgas-inside
  • pvgas